Khám phá 3 bảng chữ cái dành cho người mới bắt đầu...

Khám phá 3 bảng chữ cái dành cho người mới bắt đầu học tiếng Nhật

283
SHARE

Khác với tiếng Việt, tiếng Nhật sở hữu 3 bảng chữ cái khác nhau gây không ít khó khăn cho người học ngay từ kiến thức nhập môn. Những thông tin về 3 bảng chữ cái tiếng Nhật đầy đủ, chi tiết được chúng tôi tổng hợp lại dành cho những ai đang khởi đầu chinh phục Nhật Ngữ.

Khám phá 3 bảng chữ cái dành cho người mới bắt đầu học tiếng Nhật

Khám phá 3 bảng chữ cái dành cho người mới bắt đầu học tiếng Nhật

Tiếng Nhật có bao nhiêu bảng chữ cái?

Bảng chữ cái tiếng Nhật bao gồm romaji, hiragana, katakana và kanji. Tuy nhiên, romaji không được xét là bảng chữ cái chính thức, đây chỉ đơn giản là các kí tự la tinh được sử dụng để ghi phiên âm tiếng Nhật.

  • Kanji: Đây được xem là bảng chữ cái khó nhất trong toàn bộ các bảng chữ cái thông dụng của nhật bản là chữ Hán được người Nhật sử dụng để giản lược văn viết
  • Hiragana: Bảng chữ mềm của Nhật Bản đây là bảng chữ cái chính thức trong tiếng Nhật. bất cứ ai khi bắt đầu học tiếng Nhật đều sẽ học bảng chữ cái này đầu tiên. Hiragana dùng để ghi phiên âm cho các chữ kanji khó hoặc các từ có cách đọc đặc biệt.
  • Katakana: bảng chữ cứng của người Nhật được dùng để phiên âm những từ có nguồn gốc từ nước ngoài.

Lịch sử các bảng chữ cái tiếng Nhật

Kanji được hình thành thế nào?

Giống như nhiều quốc gia Á Đông, Nhật Bản cũng bị ảnh hưởng nặng nề văn hóa Trung Quốc trong đó có cả chữ viết. Theo tài liệu cổ của  Nhật ghi lại, vào khoảng thế kỷ 5 Trước công nguyên, văn tự đầu tiên xuất hiện tại Nhật chính là Kanji (漢字 – Hán tự) hệ thống chữ viết Trung Hoa.

Để thuận tiện cho việc giao thương cũng như trao đổi buôn bán việc học tập Hán văn nhận được sự chấp thuận của nhiều người, và đặc biệt là các nhà sư, và nó được sử dụng rộng rãi.

Ngày nay hệ thống chữ Kanji được sử dụng rộng rãi và là bảng chữ cái phổ thông nhất hiện nay.

Lịch sử các bảng chữ cái tiếng Nhật

Lịch sử các bảng chữ cái tiếng Nhật

Hiragana bảng chữ cái chính thức của người Nhật

 平仮名 gồm 48 ký tự là bảng chữ cái của người Nhật được ra đời vào thế kỷ thứ 6 TCN khi người Nhật muốn xóa bỏ sự lệ thuộc vào tiếng Trung Quốc đồng thời giúp khắc phục những bất tiện trong việc sử dụng Hán văn trong các văn học Nhật Bản.

Bảng chữ cái Hiragana sơ khai chính là Manyogana ­– tức ‘vạn diệp giả danh’ được sử dụng để biểu thị cách phát âm các Hán tự của Trung Quốc trong tiếng Nhật. Về sau, loại chữ viết này được đơn giản hóa và trở thành chữ Hiragana ngày nay.

a2

Hiragana cổ đại bao gồm 48 ký tự, được sử dụng lần đầu tiên trong tập Kokin-wakashuu (Cổ kim hòa) vào năm 905, do thời thế cũng như tần suất sử dụng mà chính phủ Nhật Bản đã chuẩn hoá hệ chữ này vào năm 1946 bộ chữ Hiragana chỉ còn 46 ký tự và vẫn được tiếp tục duy trì.

Katakana bảng chữ cuối cùng của người Nhật

Katakana là bảng chữ cái ra ngay sau khi Hiragana được ra mắt. Katakana đánh dấu cho sự hoàn thiện hệ thống chữ viết hoàn toàn thuần Nhật đầu tiên, với tên gọi Kana.

a3

Bảng chữ cái Katakana lại được phát triển dựa trên sự đơn giản hóa các bộ thủ trong chữ viết Trung Hoa. Katakana 片仮名 ban đâù cũng gồm 48 ký tự, được sử dụng chủ yếu bởi đàn ông sau đó giản lược còn 46 ký tự, Katakana hiện đại đã mất đi dáng vẻ vốn có của Kanji gốc.

Chữ Katakana phần lớn được sử dụng để nhấn mạnh, ghi tên riêng nước ngoài, các từ mượn từ các thứ tiếng khác ngoài Trung Quốc

Nguồn: xklddieuduongnhatban.com

Nhận xét